Tại sao nhiều thiên tài mắc chứng tâm thần?

Thảo luận trong 'Sinh học' bắt đầu bởi [ẹc], 4 Tháng mười một 2012.

  1. [ẹc]

    [ẹc] ... Staff Member

    Nhiều thiên tài về tư duy sáng tạo vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, từ những họa sĩ nổi tiếng Vincent van Gogh và Frida Kahlo đến các đại văn hào Virginia Woolf hay Edgar Allan Poe, đều mắc chứng bệnh tâm thần.

    Một nghiên cứu mới đây đã phát hiện ra mối liên kết giữa 2 thái cực của tâm trí con người:khả năng sáng tạo và rối loạn tâm thần, cho thấy ranh giới mong manh giữa thiên tài và người tâm thần không đơn thuần chỉ là những giai thoại.
    [​IMG]
    Bức chân dung tự họa với chiếc tai bị cắt được Vincent van Gogh vẽ năm 1889.
    Giáo sư Kay Redfield Jamison, một nhà tâm lý học lâm sàng thuộc Đại học Y khoa Johns Hopkins, cho biết kết quả của 20 đến 30 nghiên cứu khoa học đều xác nhận kết luận này.
    Trong số nhiều loại rối loạn tâm thần, sự xuất hiện của khả năng sáng tạo có liên quan đến rối loạn tâm trạng, đặc biệt là rối loạn lưỡng cực, Jamison nói. Ví dụ, một thử nghiệm về trí thông minh trên 700.000 trẻ em Thụy Điển trong độ tuổi 16 đã được tiến hành và tiếp tục theo dõi trong 10 năm sau đó. Kết quả công bố vào năm 2010 khiến các chuyên gia không khỏi ngạc nhiên: ở nhóm người có sự vượt trội, khả năng phát triển rối loạn lưỡng cực tăng gấp 4 lần so với nhóm còn lại.
    Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi sự thay đổi bất thường giữa 2 trạng thái: cực kỳ hưng phấn và trầm cảm ở mức độ nặng. Làm thế nào chu kỳ này có thể nảy sinh sự sáng tạo? Nhà sinh học thần kinh James Fallon đến từ Đại học California - Irvine giải thích: “những người mắc rối loạn lưỡng cực có xu hướng nảy sinh sự sáng tạo khi họ đang trong tâm trạng buồn phiền và tuyệt vọng”.
    Khi tình trạng này được cải thiện, hoạt động của não cũng thay đổi theo: các hoạt động sẽ mất dần ở vùng dưới thùy trán và “lóe sáng” ở vùng cao hơn. Vào thời kỳ hưng cảm, họ sẽ có những lúc xuất thần tạo nên tuyệt phẩm mà một người bình thường không thể nào làm được.
    Ở người mắc rối loạn dạng này, họ có thể phân tích, xem xét các ý tưởng trái ngược nhau cùng một lúc và nhận thức được những liên kết mơ hồ giữa chúng trong khi hầu hết các bộ não bình thường khác thì không, Elyn Saks, Giáo sư về sức khỏe tâm thần tại Đại học Nam California chia sẻ thêm.
    Không thể phủ nhận rằng chứng bệnh tâm thần lưỡng cực đã góp phần tạo nên những phát minh, cống hiến về văn học, nghệ thuật vô cùng vĩ đại cho nhân loại. Kết quả này vừa được đưa ra thảo luận tại Festival Khoa học Thế giới lần thứ 5 diễn ra ở New York vào ngày thứ 6 (31/5).

    Theo Đất Việt, lifeslittlemysteries
     
  2. [ẹc]

    [ẹc] ... Staff Member

    Wolfgang Amadeus Mozart - Nhà soạn nhạc từ tuổi lên 6

    [​IMG]
    Tài năng âm nhạc của nhà soạn nhạc huyền thoại người Áo đã nhanh chóng được bộc lộ sau khi được sinh ra. Vào năm lên 3 tuổi, Mozart đã có thể chơi đàn Clavico (một dạng đàn tương tự như piano, với kích cỡ nhỏ hơn), đến năm 6 tuổi, nhạc sĩ thiên tài này đã viết được bản hợp âm đầu tiên, tiếp đó là bản giao hưởng đầu tiên vào năm 8 tuổi và nhạc kịch opera vào năm 12 tuổi.
    Vào năm 5 tuổi, Mozart đã được biểu diễn đàn piano tại trường Đại học Salzburg (Áo) và một năm sau đó là biểu diễn tại Cung điện Hoàng gia ở thủ đô Viên của nước Áo. Ở năm 14 tuổi, Mozart được mời đến Ý để sáng tác nhạc Opera tại đây. Mozart qua đời vào năm 35 tuổi và để lại hơn 600 tác phẩm khác nhau.
    William Rowan Hamilton - Nhà đa ngôn ngữ tuổi lên 5

    [​IMG]
    Sinh ra tại Dublin, Ireland vào năm 1805, William Rowan Hamilton đã cho thấy trí tuệ siêu phàm của mình rất sớm, khi mới 5 tuổi, ông đã có thể nói thông thạo tiếng Latin, Hy Lạp và Do Thái. Vào năm 13 tuổi, nhà toán học tương lai này đã có thể nói được 13 thứ tiếng khác nhau, bao gồm tiếng Phạn, Ba Tư, Ý, Ả Rập, Syria, tiếng địa phương Ấn Độ…
    Không chỉ thể hiện trình độ về ngôn ngữ, Rowan Hamilton còn bộc lộ tài năng về toán học từ rất sớm. Ở tuổi 15, Hamilton đã phát hiện ra các lỗi trong khi nghiên cứu về công trình của nhà toán học nổi tiếng người Pháp Pierre Simon.
    Rowan Hamilton có nhiều đóng góp trong việc phát triển lý thuyết về động lực học và quaternions, một phương pháp được sử dụng cho không gian ba chiều trong toán học. Ông là nhà toán học vĩ đại nhất được phong tước Hiệp sĩ ở Ireland vào năm 1835 và qua đời vào năm 1865.
    Pablo Picasso - Nghệ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 20

    [​IMG]
    Sinh năm 1881 tại Tây Ban Nha, Pablo Picasso đã phát triển kỹ năng hội họa của mình từ rất sớm, với sự giúp đỡ của người cha cũng là họa sĩ, năm 15 tuổi, Picasso đã trình làng bức tranh bằng sơn dầu của mình tại Barcelona, với tên gọi “Buổi hiệp thông đầu tiên”.
    Năm tiếp sau đó, bức tranh “Khoa học và lòng nhân từ” đã giúp Picasso đạt được huy chương vàng trong cuộc thi vẽ tranh nghệ thuật tại Malaga (Tây Ban Nha) và giúp ông góp mặt với vai trò khách mời danh dự tại triểm lãm quốc gia về mỹ thuật diễn ra tại thủ đô Madrid trong năm này.
    Đầu thế kỷ 20, Picasso đã sáng lập ra phong cách nghệ thuật vẽ tranh lập thể và tiếp tục sáng tạo ra những kiệt tác cho ngày nay. Họa sĩ thiên tài này qua đời tại Pháp năm 1973.
    William James Sidis - Người thông minh nhất trong lịch sử thế giới

    [​IMG]
    Từ năm 8 tuổi, William James Sidis đã chứng minh được tài năng toán học thiên phú của mình bằng cách phát triển một bảng logarit mới dựa trên con số 12 và đã có một bài giảng tại trường Đại học Harvard một năm sau đó.
    Thần đồng toán học này cũng đã lập nên kỷ lục thế giới cho người trẻ tuổi nhất học và tốt nghiệp đại học, khi đặt chân vào trường đại học Harvard vào năm 11 tuổi và tốt nghiệp 5 năm sau đó.
    Sidis được coi là người thông minh nhất từng sống trên trái đất, với chỉ số thông minh IQ ước tính trong khoảng từ 250-300.
    Trước khi bộc lộ tài năng về toán học, Sidis đã tự mình học cách để đọc và nhanh chóng thông thạo 8 loại ngôn ngữ khác nhau và bắt tay viết sách từ năm 7 tuổi.
    Sau một tuổi thơ với những trải nghiệm khó tin, Sidis lại trải qua một tuổi trưởng thành khá bình lặng. Sau khi trưởng thành, báo chí không ngừng săn đuổi ông, tuy nhiên Sidis quyết tâm tìm sự riêng tư. Ông từ bỏ toán học và chuyển sang viết sách. Năm 1925, ông xuất bản cuốn sách về vũ trụ học trong đó ông dự đoán về các hố đen trong vũ trụ. Sidis qua đời vì xuất huyết não vào năm 1944.
    Shakuntala Devi - “Phù thủy toán học” của Ấn Độ

    [​IMG]
    Sinh năm 1939 tại Bangalore, Ấn Độ, là con của một người dạy thú, Shakuntala Devi bắt đầu tình yêu với những con số thông qua những lá bài mà bà thường chơi với cha mình từ năm 3 tuổi.
    Biệt danh “người máy tính” “phù thủy toán học” được gán cho Devi sau khi bà thể hiện trình độ toán học siêu việt của mình tại trường đại học Mysore và Annamalai khi còn còn là một đứa trẻ.
    Tài năng của Devi đã giúp bà nhiều lần được vinh danh trong sách kỷ lục Guiness, chẳng hạn khi bà có thể tính nhẩm kết quả căn 23 một con số có 201 chữ số…
    Năm 2006, Devi xuất bản cuố sách với tiêu đề “Mảnh đất thần tiên của những con số”, viết về câu chuyện của một cô bé gái thể hiện tình yêu với những con số, cũng chính là câu chuyện về cuộc đời bà.
    Robert James Fischer - Đại kiện tướng cờ vua trẻ tuổi nhất thế giới

    [​IMG]
    Năm 1957, Robert “Bobby” Fischer trở thành nhà vô địch cờ vua thế giới từ năm 14 tuổi, và là kiện tướng trẻ tuổi nhất vô địch tại giải đấu danh giá này. 1 năm sau đó, Fischer tiếp tục phá một kỷ lục mới khi trở thành đại kiện tướng trẻ tuổi nhất thế giới, ở tuổi 15.
    Trước đó, khi mới 13 tuổi, Fischer đã chơi một ván cờ cầm quân đen và thắng Kiện tướng người Mỹ Donald Byrne. Ván cờ này về sau được chọn là “ván cờ thế kỷ”.
    Năm 1972, Robert Fischer được xếp hạng cao nhất trong lịch sử môn cờ vua, với thứ hạng FIDE đạt 2785.
    Năm 1992, Fischer đã đấu một trận cờ vua với đại kiện tướng người Nga Spassky tại Nam Tư, khi đó đang bị Liên Hợp Quốc cấm vận, điều này đã khiến Fischer trở nên phạm pháp và phải trốn tránh các nhà chức trách trong suốt 12 năm tiếp theo, trước khi bị bắt giữ vào năm 2004 tại Nhật Bản. Sau đó, Fischer được trả tự do vào năm 2005 và được cấp quốc tịch. Fischer qua đời tại Iceland vào năm 2008.
    Theodore Kaczynski - Từ cử nhân trẻ tuổi của Harvard trở thành khủng bố

    [​IMG]
    Sinh năm 1942, Theodore Kaczynski được biết đến với biệt danh "Unabomber", nổi tiếng như một thần đồng và được phép học tại trường Đại học Harvard từ năm 16 tuổi. Trước đó, Kaczynski đã có chỉ số thông minh IQ 167 khi mới học lớp 5.
    Sau khi tốt nghiệp Harvard, Kaczynski tiếp tục nhận được bằng tiếng sĩ toán học tại trường Đại học Michigan, nơi mà luận án tiến sĩ của ông phức tạp đến nổi các giáo sư ở đó phải thừa nhận rằng không thực sự hiểu hết được nó.
    Ở tuổi 25, Kaczynski trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất tại trường Đại học California, tuy nhiên đã từ chức sau đó 2 năm, chuyển đến sống cùng với bố mẹ và cuối cùng đến sống tại một cabin hẻo lánh ở trong rừng. Kaczynski đã quyết định bắt đầu một chiến dịch đánh bom thư sau khi nhìn thấy các vùng đất hoang quanh nhà của mình bị phá hủy bởi sự phát triển.
    Trong gần 20 năm, từ 1978 đến 1995, Kaczynski đã gửi 16 quả bom thư đến nhiều mục tiêu khác nhau, bao gồm cả các trường đại học, các hãng hàng không… giết chết 3 người và làm bị thương 23 người.
    FBI đã liệt kê Kaczynski vào 1 trong 100 tên tội phạm nguy hiểm nhất và đã tiến hành một chiếc dịch điều tra gắt gao. Hiện Kaczynski đang phải chịu một án tù chung thân không được ân xá sau khi bị bắt giữ vào năm 1995.
    Kim Ung-Young - Tham gia các lớp đại học từ năm 3 tuổi

    [​IMG]
    Ở tuổi lên 3, Kim Ung-Yong đã bắt đầu được tham gia các lớp học về vật lý với vai trò sinh viên khách mời tại trường đại học Hanyang, Hàn Quốc. Đến năm 8 tuổi, Kim được cơ quan vũ trụ Mỹ NASA mời sang học tại Mỹ.
    Sinh năm 1962, thần đồng trẻ tuổi này bắt đầu biết nói vào 4 tháng tuổi, và 2 năm sau đã có thể đọc được tiếng Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Anh. Kim Ung-Yong đã được tổ chức sách kỷ lục Guiness trao tặng danh hiệu người có chỉ số IQ cao nhất, với 210 điểm.
    Năm 16 tuổi, Kim rời khỏi NASA và quyết định quay trở lại học đại học tại Hàn Quốc và nhận bằng tiến sĩ về kỹ thuật dân sự. Kim hiện đang là giáo sư tại trường Đại học Chungbuk (Hàn Quốc) từ năm 2007 và đã xuất bản hơn 90 bài viết khác nhau trên các tạp chí khoa học.

    Theo Dân trí
     
  3. [ẹc]

    [ẹc] ... Staff Member

    Những thiên tài không bằng cấp

    Họ là những nhà khoa học, nhà văn, nhà chính trị lỗi lạc trong lịch sử nhân loại. Dù không có điều kiện để theo học bất cứ chương trình đào tạo chính quy nào, nhưng bằng niềm đam mê, sự ham học, và ý chí nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, họ đã vươn lên và toả sáng như những vì tinh tú trên bầu trời lịch sử của nhân loại...
    [​IMG]
    Một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử là Frederick Douglass. Ông sinh năm 1818 trong một gia đình nô lệ ở Maryland. Khi còn là một đứa trẻ ông đã tự mày mò học chữ khi gia đình ông đang sống ở Baltimore, kể từ đó ông luôn tự tìm cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.
    Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo và sau đó ông trở thành một trong những nhà văn, một người theo chủ nghĩa bãi nô có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.
    [​IMG]
    Ando Tada là một kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Ông đã từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một võ sĩ quyền Anh, và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một kiến trúc sư. Ông đã từng một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc bằng cách đến thăm những công trình nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Ando Tadao.
    Công trình nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House), hoàn thành năm 1972 là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.
    [​IMG]
    Tiến sĩ Janes Goodall, một trong những nhà hoạt động bảo vệ môi trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là sứ giả hoà bình của Liên hiệp quốc, là một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đã đến Kenya, châu Phi để nghiên cứu về tập tính và đời sống của loài tinh tinh. Bà đã có 40 năm sống và làm việc ở châu Phi và những nghiên cứu của bà được nhiều người đánh giá là "đã ảnh hưởng đến toàn thế giới nói chung và thế giới động vật nói riêng". Điều thú vị về bà là phần lớn những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào.
    TS Janes Goodall đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dã; Đại sứ hoà bình của Liên hợp quốc năm 2002; Huy chương Benjamin Franklin vì sự nghiệp khoa học năm 2003. Bà còn được biết đến với tên gọi "người phụ nữ của tinh tinh".
    [​IMG]
    Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lý người Anh đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đình nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường, nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học và đã nổ lực tự học không mệt mỏi.
    Năm 14 tuổi Faraday học việc ở một cửa hiệu sách, và trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Từ đó ông đã biểu lộ niềm đam mê khoa học, nhất là trong lĩnh vực điện năng.
    Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp, nhưng ông là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử khoa học. Ông là vị giáo sư hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc, và đã giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.
    [​IMG]
    Hai anh em nhà Wright, Orville Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).
    Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300kg, với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..
    Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo kỹ sư hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào. Thành công của họ đến từ niềm đam mê khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực tìm tòi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.
    [​IMG]
    Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lý thuyết nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ và làm quen với toán học từ năm lên 10 tuổi.
    Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm 13 tuổi ông đã thành thục quyển sách này và bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các định lý toán học. Năm 17 tuổi ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni.
    Trong quãng đời ngắn ngủi của mình (1887-1920), Ramanujan đã độc lập công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức, mà ngày nay hầu hết đã được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ các công trình của ông.
    [​IMG]
    Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền văn học Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu; năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời vì căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ. Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.
    Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống và bắt đầu dấn thân vào công việc của một nhà báo. Những cuộc hành trình lênh đênh trên miền sông nước trước đó đã trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi…
    [​IMG]
    Steven Paul Jobs là một tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple; ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar (hãng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt hình hay nhất như Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3; sau đó ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar.
    Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và đăng kí vào học tại cao đẳng Reed College ở Portland, bang Oregon, nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.
    Mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này Jobs bày tỏ rằng: "Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, Mac sẽ không bao giờ có có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy".
    [​IMG]
    Abraham Lincoln là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được, từ Kinh Thánh, đến các sách tiếu sử, và sách văn chương.
    Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ, ngoài ra ông còn học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.
    Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ̉ chế độ nô lệ.

    Theo Vietnamnet
     
  4. [ẹc]

    [ẹc] ... Staff Member

    Những thiên tài có đầu óc không bình thường


    Chúng ta không biết chắc liệu chỉ số IQ cao có liên quan gì đến các bệnh thần kinh hay không, nhưng có vẻ như những người thông minh thường không được “bình thường” cho lắm.
    Dù không thể tiến hành các kiểm tra tâm lý học và thần kinh đối với những “người điên vĩ đại” của lịch sử, nhưng các nhà sử học đã nghiên cứu những tài liệu cá nhân của họ, bao gồm thư từ, tài liệu, các tác phẩm và công trình nghiên cứu cũng như những nguồn thông tin khác. Kết quả là, hóa ra nhiều thiên tài vĩ đại nhất thế giới lại là những người có đầu óc “không được bình thường”.
    Tuy chưa có bằng chứng khoa học xác thực về mối liên hệ này, nhưng các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Toronto đã phát hiện, những người làm các công việc có tính sáng tạo cao như nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, ... có rất ít hoặc thậm chí không có khả năng tự kiềm chế - đây là một khả năng thuộc về tiềm thức cho phép chúng ta phớt lờ những kích thích không quan trọng hoặc không liên quan tới bản thân. Tạp chí Discovery dẫn lời giáo sư tâm lý học Jordan Peterson thuộc trường ĐH Toronto nói: “Một người bình thường sẽ có phản xạ đánh giá và phân loại một thực thể từ môi trường, rồi sau đó quên nó đi, mặc dù rất có thể vật thể đó phức tạp và thú vị hơn đánh giá ban đầu của họ. Ngược lại, nhóm người có óc sáng tạo cao lại luôn quan tâm đến mọi thứ trong môi trường xung quanh và tìm kiếm những điều mới mẻ nơi chúng”.
    John Nash (sinh năm 1928)

    [​IMG]
    John Nash (trái) và diễn viên Russel Crowe vào vai ông trong phim A Beautiful Mind).
    Bộ phim của Hollywood “A Beautiful Mind” (Một tâm hồn đẹp) từng đoạt 4 giải Oscar có kịch bản phỏng theo cuộc đời của thiên tài toán học - John Nash và cuộc chiến chống lại căn bệnh tâm thần phân liệt của ông.
    Tên đầy đủ của ông là John Forbes Nash Jr. Ông là một nhà toán học người Mỹ, chuyên ngành lý thuyết trò chơi, hình học vi phân, phương trình vi phân. Các lý thuyết của ông đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về các lực lượng chi phối cơ hội và những sự kiện bên trong các hệ thống phức tạp trong cuộc sống thường ngày. Lý thuyết của ông đã được sử dụng trong kinh tế thị trường, tính toán, sinh học tiến hóa, trí tuệ nhân tạo, kế toán, lý thuyết chính trị và quân đội.
    John Nash mắc chứng ảo giác và hoang tưởng tự đại trong suốt khoảng 30 năm của cuộc đời. Ông thường có ảo giác nghe thấy giọng nói của nhiều người văng vẳng bên tai nhưng lại không nhìn thấy ai cả. Ông còn mắc chứng hoang tưởng tự đại, cho rằng mình đang bị những nhân vật quan trọng trên thế giới truy lùng. Vào cuối thập niên 1980, sau nhiều lần nhập viện và chống chọi với các chứng rối loạn trên, cuối cùng ông đã có thể tạm trở lại bình thường. Năm 1994, John Nash được trao giải Nobel về Khoa học Kinh tế cho những công trình nghiên cứu về lý thuyết trò chơi trước đây của mình.
    Nói về sự bình phục của bản thân, John Nash cho rằng đó không hẳn là một niềm vui. Ông coi sự tỉnh táo trong suy nghĩ sẽ đặt ra giới hạn trong nhận thức của một người về mối liên hệ giữa bản thân với thế giới, với vũ trụ.
    Vincent van Gogh (1853 - 1890)

    [​IMG]
    Vincent van Gogh là một danh hoạ Hà Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng. Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và cũng đắt giá nhất trên thế giới. Chỉ trong 10 năm cuối đời, họa sĩ đã sáng tác hơn 2.000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1.100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt bên tai trái vì tình bạn tan vỡ với họa sĩ Paul Gauguin. Sau đó, Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.
    Van Gogh thường xuyên gặp phải các vấn đề về thần kinh, đặc biệt trong những năm cuối đời. Đã có rất nhiều cuộc tranh luận nổ ra trong việc tìm nguyên nhân thực sự cho chứng bệnh thần kinh của họa sĩ và ảnh hưởng của nó lên các tác phẩm của ông. Người ta đã đưa ra khoảng 30 chẩn đoán khác nhau cho triệu chứng bệnh của Van Gogh, trong đó phải kể tới chứng tâm thần phân liệt, rối loạn chức năng, giang mai, động kinh và rối loạn chuyển hóa porphyrine cấp tính. Bất kì chứng bệnh nào trong số trên cũng có thể là thủ phạm dẫn tới sự suy nhược thần kinh của họa sĩ. Tình trạng của ông còn bị làm trầm trọng thêm do ăn uống thiếu chất, lao lực, mất ngủ và nghiện rượu, nhất là rượu absinthe.
    Người ta còn đưa ra một giả thuyết cho thể trạng yếu của họa sĩ là do ngộ độc chì. Các màu vẽ mà Van Gogh thường dùng đều có gốc chì, và một trong các triệu chứng của nhiễm độc chì đó là căng võng mạc dẫn tới việc thường xuyên nhìn thấy các quầng sáng, một đặc điểm thường thấy trong các tác phẩm cuối đời của họa sĩ.
    Edgar Allan Poe (1809 - 1849)

    [​IMG]
    Edgar Allan Poe là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ lớn của Mỹ. Poe là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự. Ông làm thơ, viết văn xuôi, viết phê bình văn học và làm cả biên tập viên sách, nhưng mang lại cho ông nhiều danh tiếng nhất là những truyện ngắn thuộc thể loại kinh dị và trinh thám.
    Suốt cuộc đời từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh cho tới lúc từ giã cõi đời, Poe đã phải sống một cuộc sống đầy nỗi đau khổ, bất hạnh.
    Trong suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố, mẹ, anh trai, mẹ nuôi, rồi người vợ thân yêu của ông lần lượt chết bởi bệnh lao phổi. Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông, lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết.
    Những năm tháng cuối đời (từ năm 1847 - 1849), Poe đã sống trong tình trạng lao đao, nửa mất trí. Cái chết của ông cũng mang nhiều bí ẩn như chính những tác phẩm của ông. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.
    Gần đây, dư luận nghiêng về giả thiết do nhà văn Mỹ Mathew Pearla đưa ra. Học giả này đã dành 3 năm nghiên cứu về cái chết của Edgar Poe để rồi đi đến kết luận là Poe chết bởi bệnh u não.
    Một trong những căn cứ mà Mathew Pearl dựa vào là các bài tường thuật của cánh báo chí về những gì họ quan sát được trong lần khai quật tử thi của Edgar Poe năm 1875. Theo những người này, họ đã vô cùng sửng sốt khi thấy bộ não teo tóp của người quá cố không bị phân hủy mà vẫn nằm trong hộp sọ. Tìm hiểu qua một chuyên gia giải phẫu, Mathew được biết, trường hợp như vậy là vô cùng hạn hữu. Nó chỉ có thể xảy ra với một số ít trường hợp não bị vôi hóa do u bướu, khiến chủ nhân khi chết rồi mà não vẫn vón cục, không chịu phân hủy.
    Ludwig van Beethoven (1770 - 1827)

    [​IMG]
    Beethoven là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức (nhưng ông sống chủ yếu ở Wien, Áo). Ông được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ và khán giả về sau.
    Cuộc sống của Beethoven có rất nhiều khó khăn. Cha ông là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ ông lại hay đau ốm. Trong sáu anh chị em của Beethoven chỉ còn có hai người sống sót. Vào khoảng 5 tuổi, ông bị chứng viêm tai giữa, có lẽ đây là nguyên nhân khiến ông bị điếc sau này.
    Trong cuộc đời của mình, Ludwig van Beethoven đã phải chịu đựng sự hành hạ đau đớn về mặt thể xác. Nguyên nhân bệnh tật của ông cho đến hôm nay vẫn còn là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học.
    Vào đầu tháng 12/2005, Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne ở Chicago, Mỹ đã đưa ra bằng chứng rằng, ngay từ thời thanh niên Ludwig van Beethoven đã bị nhiễm độc chì rất nặng. Công bố này dựa vào sự phân tích một mẫu xương sọ của danh họa bằng X quang. Như vậy, có thể nói ngay từ khi ông mới 20 tuổi Ludwig van Beethoven đã chịu đựng tác động rất nặng của tình trạng nhiễm độc chì.
    Tài liệu lịch sử còn cho biết, ngay từ khoảng 20 tuổi, tính cách của Ludwig van Beethoven đã bắt đầu thay đổi. Cùng thời gian đó, ông cũng thường than phiền về chứng đau bụng không rõ nguyên do của mình. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ liệu bệnh điếc của ông có phải do nhiễm độc chì hay không.
    Vào khoảng 30 tuổi, Ludwig van Beethoven bắt đầu biểu lộ những triệu chứng đầu tiên của bệnh xơ hóa thính giác và triệu chứng này ngày càng tồi tệ hơn, không có cách gì cứu vãn. Đến năm 1819 thì ông điếc hoàn toàn. Từ đó, ông không còn trình diễn nữa cũng như không thể chỉ huy dàn nhạc được. Việc giao tiếp lúc này đối với ông cũng cực kỳ khó khăn.
    Lúc được bác sĩ cho biết cái chết gần kề, Beethoven không buồn, trái lại cảm thấy nhẹ người, tuyên bố với bạn bè: "Các bạn hãy vỗ tay đi! Màn bi kịch đã đến lúc hạ rồi!".
    Isaac Newton (1642 - 1727)

    [​IMG]
    Isaac Newton là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học tự nhiên và nhà toán học vĩ đại người Anh. Mặc cho những đóng góp to lớn của ông với khoa học, ông vẫn bị "mang tiếng” là người rất khó gần, tính khí vô cùng thất thường hay thậm chí là có những biểu hiện của chứng tâm thần phân liệt.
    Sinh ra trong một gia đình nông dân, may mắn cho nhân loại, Newton không làm ruộng giỏi nên được đưa đến Đại học Cambridge để trở thành luật sư. Một đợt dịch bệnh đã khiến trường Cambridge đóng cửa, do đó ông trở về nhà. Trong hai năm liền sống ở nhà, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, Newton dành hết thì giờ để suy tư và nghiên cứu khoa học.
    Kết quả thật siêu phàm: chưa đầy 25 tuổi, Newton đã thực hiện được ba phát minh khiến ông nghiễm nhiên trở nên ngang hàng với các thiên tài khoa học của mọi thời đại.
    Điều đáng ngạc nhiên là Newton không hề công bố gì về ba phát minh cực kỳ quan trọng của ông về toán học vi phân, màu sắc của ánh sáng và định luật hấp dẫn. Với bản tính rất dè dặt, kín đáo, ông không thích tiếng tăm, không thích tranh luận và có ý muốn xếp xó những phát minh của mình. Những gì ông công bố sau này đều do bạn bè thúc ép, song ông lại hối hận vì trót mềm yếu nghe lời họ. Ông nghĩ rằng công bố sẽ khiến cho người ta phê bình, rồi từ phê bình đi tới tranh luận, điều mà Newton với bản tính nhạy cảm rất lấy làm khổ tâm.
    Sinh thời Newton rất nhạy cảm trước những phản bác đối với các lý thuyết của ông, thậm chí đến mức không xuất bản các công trình cho đến tận sau khi người hay phản bác ông nhất là Hooke mất.
    Ông tỏ ra ngày càng lập dị vào cuối đời khi thực hiện các phản ứng hoá học và cùng lúc “tiên tri” ngày tháng cho các sự kiện trong Kinh Thánh. Sau khi Newton qua đời, người ta tìm thấy một lượng lớn thuỷ ngân trong cơ thể của ông, có thể bị nhiễm trong lúc làm thí nghiệm. Tác hại của hóa chất này với cơ thể có thể giải thích một phần cho sự lập dị của thiên tài vĩ đại này.

    Theo Vietnamnet
     

Chia sẻ trang này